"CÔNG AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG SIẾT CHẶT KỶ LUẬT, KỶ CƯƠNG, ĐIỀU LỆNH; XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ"

NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU NGHỊ ĐỊNH SỐ 70/2024/NĐ-CP VỀ CĂN CƯỚC

A
Cập nhật: 13/03/2026 12:04

​(1) Sửa đổi quy định về trách nhiệm của công an cấp xã về thu thập, cập nhật thông tin công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư quy định tại khoản 6 Điều 5 như sau:

Công an cấp xã nơi công dân cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật thông tin về công dân cư trú trên địa bàn quản lý vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ việc giải quyết thủ tục đăng ký, khai báo, điều chỉnh thông tin cư trú của công dân; sổ sách quản lý về cư trú; tàng thư; từ việc giải quyết cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước ; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thu thập, cập nhật thông tin của công dân từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử hoặc giấy tờ, sổ sách quản lý hộ tịch. Trường hợp thông tin, giấy tờ, tài liệu nêu trên về công dân chưa có hoặc chưa đầy đủ thì được thu thập, cập nhật từ công dân thông qua Phiếu thu thập thông tin dân cư, Phiếu đề nghị giải quyết thủ tục về căn cước.

(2) Sửa đổi, bổ sung quy định về việc điều chỉnh thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước (quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 6 và khoản 2 và khoản 3 Điều 14) như sau:

Trường hợp công dân phát hiện thông tin do mình cung cấp để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước có sự thay đổi hoặc sai sót thì đề nghị công an cấp xã thực hiện điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trình tự, thủ tục điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo đề nghị của công dân:

- Công dân đề nghị điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư qua, Cơ sở dữ liệu căn cước Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc qua Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) hoặc trực tiếp tại cơ quan Công an nơi gần nhất;

- Hồ sơ đề nghị gồm: Phiếu đề nghị giải quyết thủ tục về căn cước và tài liệu chứng minh thông tin cần điều chỉnh;

(3) Sửa đổi, bổ sung thẩm quyền khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của công an cấp xã (quy định khoản 4, khoản 5 Điều 9) như sau:

Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cung cấp cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, tổ chức khác có trụ sở chính trên địa bàn quản lý và cá nhân cư trú trên địa bàn quản lý quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 8 Nghị định khi có yêu cầu khai thác, cung cấp thông tin bằng văn bản.

(4) Nghị định bổ sung quy định về việc xác lập số định danh cá nhân đối với công dân khi, ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ( quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 11 ) đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam về việc được cấp số định danh cá nhân.

Đồng thời, để tạo thuận lợi cho người dân, Nghị định cũng bãi bỏ quy định về việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân đối với các trường hợp: (1)được xác định lại giới tính, cải chính hộ tịch do có sai sót về năm sinh theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch và pháp luật khác có liên quan; (2)Có sai sót về thông tin nơi đăng ký khai sinh, năm sinh, giới tính của công dân khi thu thập vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ( quy định tại điểm a, điểm b khoản 7 Điều 11 ). Đối với nội dung này, trong Nghị định số 70/2024/NĐ-CP, theo quy định khoản 8 Điều 11 thì việc huỷ, xác lập lại số định danh cá nhân đối với trường hợp nêu trên được thực hiện theo nhu cầu của công dân, trường hợp công dân không có nhu cầu huỷ, xác lập lại số định danh cá nhân thì tiếp tục sử dụng số định danh cá nhân đang sử dụng, tuy nhiên trong thực tiễn mặc dù công dân không có nhu cầu hủy nhưng khi đi thực hiện các giao dịch dân sự nhiều đơn vị, tổ chức buộc công dân phải hủy, xác lập lại số định danh cá nhân mới giải quyết các giao dịch dân sự (điển hình như việc cung cấp các dịch vụ tín dụng tại ngân hàng) vì vậy, việc bãi bỏ quy định này để đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân.

(5) Nghị định cũng bãi bỏ quy định về cấp xác nhận số chứng minh nhân dân 9 số, số định danh cá nhân đã bị hủy quy định tại Điều 12 Nghị định 70/2024/NĐ-CP đồng thời, quy định nội dung Điều này theo hướng quy định về “ Thông tin số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy ”. Theo đó:

- Thông tin số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy được mã hóa, tích hợp trong mã QR trên thẻ căn cước, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân quét mã QR trên thẻ căn cước, khai thác thông tin trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và sử dụng thông tin số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy truy xuất được qua mã QR, trong bộ phận lưu trữ của thẻ căn cước, khai thác thông tin trên Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu công dân phải cung cấp xác nhận số chứng minh nhân dân 09 số, số định danh cá nhân đã hủy.

(6) Nghị định bổ sung quy định về việc cấp đổi thẻ căn cước do có thay đổi về địa giới hành chính thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID); bổ sung quy định về việc thu hồi thẻ căn cước đối với trường hợp bị hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

(7) Sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục thu thập, cập nhật, điều chỉnh thông tin của người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước và cấp giấy chứng nhận căn cước theo hướng:

Giao trách nhiệm thu thập, cập nhật, điều chỉnh thông tin của người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước và thu nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch cho Công an cấp xã trong phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh nơi người đó sinh sống hoặc cơ quan quản lý căn cước của Công an cấp tỉnh để đề nghị thu thập, cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

(8) Nghị định cũng bổ sung quy định việc: Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm bảo đảm điều kiện hạ tầng kỹ thuật để kết nối hệ thống thông tin do mình quản lý với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải hoàn thành việc kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chậm nhất 03 tháng kể từ ngày đưa vào vận hành, khai thác, sử dụng.

Đồng thời, giao Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn chi tiết quy trình thu thập, cập nhật, điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước; kết nối, chia sẻ, đồng bộ thông tin giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước; Quy trình tra cứu, khai thác, sử dụng thông tin trong Cở sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước; kiểm tra, đánh giá bảo mật, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu tại khoản 2 Điều 7, khoản 3 Điều 16 Nghị định khi thực hiện kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước; quy trình kiểm tra, phúc tra, giám sát việc thu thập, cập nhật, điều chỉnh, kết nối, chia sẻ, khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước.

(9) Nghị định ban hành Phụ lục Danh mục thay thế Phụ lục Danh mục các thông tin liên quan đến công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chia sẻ cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ban hành kèm theo Nghị định số 70/2024/NĐ-CP.

Gửi ý kiến:

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

TƯ CÁCH
NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MỆNH LÀ:

Đối với tự mình, phải
CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH Đối với đồng sự, phải
THÂN ÁI GIÚP ĐỠ Đối với chính phủ, phải
TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH Đối với nhân dân, phải
KÍNH TRỌNG LỄ PHÉP Đối với công việc, phải
TẬN TỤY Đối với địch, phải
CƯƠNG QUYẾT, KHÔN KHÉO Trích thư Chủ tịch Hồ Chí Minh
gửi Công an Khu XII,
ngày 11 tháng 3 năm 1948.

Tổng lượt truy cập: 0

Trực tuyến: 0

Phản ánh kiến nghị Công an Hải Phòng