Chuyển mạnh từ tư duy xử lý sang chủ động phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa, từ cơ sở
Đại biểu Bùi Trung Thành, Phó giám đốc Công an thành phố nhấn mạnh cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý sang chủ động phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Theo đại biểu Bùi Trung Thành, phòng, chống tội phạm có 2 yêu cầu luôn gắn bó chặt chẽ: kịp thời phát hiện, xử lý hành vi đã xảy ra và chủ động loại bỏ nguyên nhân, điều kiện đề tội phạm không phát sinh. Thực tiễn cho thầy, dù hoạt động điều tra, truy tố, xét xử có hiệu quả đến đâu thì những tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản khi tội phạm đã xảy ra nhiều khi vẫn khó khắc phục đầy đủ. Vì vậy, yêu cầu phát hiện và ngăn chặn từ sớm, từ xa, từ cơ sở không chỉ là sự điều chỉnh phương pháp công tác, mà còn là thay đổi cách xác định kết quả cuối cùng của chính sách phòng, chống tội phạm. Trong hồ sơ Chương trình, định hướng lấy phòng ngừa là chính, kết hợp phòng ngừa xã hội với phòng ngừa nghiệp vụ và đấu tranh xử lý, hướng tới kéo giảm bền vững tội phạm, là nội dung có ý nghĩa xuyên suốt.

Đại biểu Bùi Trung Thành, Phó giám đốc Công an thành phố phát biểu thảo luận tổ về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 – 2035.
Đại biểu Bùi Trung Thành tập trung làm rõ giá trị và điều kiện thực hiện định hướng trên.
Thứ nhất, trong nhiều năm qua, công tác đấu tranh, trấn áp tội phạm đã đạt kết quả quan trọng, góp phần giữ vững an ninh, trật tự. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy tính chất của tội phạm ngày càng tinh vi, xuất hiện những loại tội phạm có khả năng gây thiệt hại lớn trong thời gian rất ngắn. Khi một vụ lừa đảo trực tuyến đã xảy ra, tài sản có thể bị chuyển dịch qua nhiều tài khoản; khi bạo lực, xâm hại trẻ em hoặc tội phạm ma túy để lại hậu quả, rất nhiều mất mát không thể khắc phục hoàn toàn. Vì vậy, cùng với việc điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, cần đầu tư có hệ thống cho nhận diện nguyên nhân, điều kiện, địa bàn và nhóm người có nguy cơ để can thiệp sớm, hạn chế khả năng phát sinh tội phạm.
Thứ hai, phòng ngừa từ sớm, từ xa phải được hiểu là phòng ngừa có căn cứ, có trọng tâm và gắn với quyên, lợi ích hợp pháp của người dân. Từ sớm là sớm nhận diện hành vi, điều kiện và nguy cơ có thể dẫn đến vi phạm; từ xa là phát hiện những phương thức, thủ đoạn mới, đường dây xuyên quốc gia hoặc nguy cơ lan truyền trên không gian mạng; từ cơ sở là nơi trực tiếp tiếp xúc với Nhân dân, nơi các mâu thuẫn, yếu tố nguy cơ và nhu cầu hỗ trợ biểu hiện rõ nhất. Cách tiếp cận này đòi hỏi kết hợp giữa truyền thông, giáo dục, trợ giúp pháp lý, hòa giải, quản lý địa bàn, dữ liệu cảnh báo và các biện pháp nghiệp vụ đúng pháp luật, không đồng nhất phòng ngừa với mở rộng biện pháp cưỡng chế.
Thứ ba, đại biểu tán thành việc hồ sơ đặt ra những chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả. Theo Tờ trình, Chương trình phấn đầu hằng năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội trong giai đoạn đến năm 2030; đồng thời nâng tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin tuyên truyền và phát triển các mô hình phòng ngừa trong nhà trường, tại địa bàn cấp xã. Việc lượng hóa như vậy tạo áp lực tích cực để các cơ quan không chỉ báo cáo số hoạt động đã triển khai mà phải chịu trách nhiệm về chuyền biến thực tế. Tuy nhiên, đề bảo đảm tính khả thi, cần xác định rõ phương pháp thống kê, kỳ gốc so sánh, phạm vi tội phạm, trách nhiệm cung cấp số liệu và biện pháp kiểm chứng độc lập, tránh cách tính không thống nhất giữa địa phương hoặc đánh giá thành tích chỉ trên cơ sở số vụ được ghi nhận.
Thứ tư, việc chuyển mạnh sang phòng ngừa đòi hỏi đầu tư cho năng lực của hệ thống chính trị ở cơ sở. Gia đình, nhà trường, tổ dân phố, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng Công an cấp xã có vai trò phát hiện những dấu hiệu sớm của bạo lực học đường, ma túy, lừa đảo, mâu thuẫn kéo dài hoặc nguy cơ bị tội phạm lôi kéo. Muốn các chủ thể này phát huy được vai trò, cần tài liệu truyền thông phù hợp, kênh tiếp nhận tin báo thuận tiện, kỹ năng xử lý tình huống, cơ chế chuyển thông tin tới cơ quan có thẩm quyền và sự hỗ trợ của những dịch vụ chuyên ngành. Chương trình cần ưu tiên hình thành năng lực ấy thay vì chỉ mở rộng các đợt tuyên truyền hình thức, thiếu đo lường hiệu quả.
Thứ năm, phòng ngừa bền vững cũng phải gắn với công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Những sơ hở trong quản lý tài chính, dữ liệu, thương mại điện tử, đất đai, tài nguyên, môi trường hoặc ngành nghề kinh doanh có điều kiện có thể trở thành cơ hội cho tội phạm lợi dụng. Vì vậy, các hoạt động đầu tư của Chương trình cần đồng hành với việc hoàn thiện chính sách, quy trình giám sát rủi ro, chia sẻ dữ liệu hợp pháp và trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành với lực lượng phòng, chống tội phạm. Đây là phương thức phòng ngừa bằng quản trị tốt, có hiệu quả lâu dài và tiết kiệm chi phí xã hội hơn so với chỉ xử lý sau vi phạm.
Thứ sáu, để biến mục tiêu phòng ngừa thành kết quả thực tế, cần coi trọng giám sát và đánh giá tác động. Một mô hình phòng ngừa chỉ đáng nhân rộng khi có căn cứ cho thấy giảm nguy cơ, thay đổi hành vi, tăng hiệu quả giải quyết mâu thuẫn, bảo vệ được người có nguy cơ bị xâm hại hoặc góp phần kéo giảm tội phạm tại địa bàn. Sản phâm đầu ra phải được phân định rõ giữa các dự án, nhất là truyền thông, giáo dục pháp luật, ứng dụng công nghệ và xây dựng mô hinh cộng đồng; tránh báo cáo một kết quả cho nhiều nguồn kinh phí. Đồng thời, phải đánh giá khách quan những yếu tố tác động ngoài Chương trình để việc xác định trách nhiệm được công bằng và thực chất.
Từ những phân tích trên, đại biểu Bùi Trung Thành đồng tình với việc Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình, đặc biệt ủng hộ định hướng lấy phòng ngừa là chính, kéo giảm bền vững tội phạm.Đại biểu đề nghị Chính phủ tập trung nguồn lực vào các giải pháp giải quyết nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm; phát huy trách nhiệm của cấp xã, phát triển hệ thống cảnh báo và dịch vụ hỗ trợ, đồng thời giám sát bằng những chỉ tiêu rõ ràng, có thể kiểm chứng. Chỉ khi người dân cảm nhận được sự an toàn tăng lên, chủ trương đầu tư mới đạt được mục tiêu cốt lõi.
Tập trung xây dựng xã, phường, đặc khu không có ma túy
Theo đại biểu Bùi Trung Thành, đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm trật tự an toàn xã hội- nền tảng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của chương trình. Đại biểu nêu rõ, nhiều nguy cơ về ma túy và tội phạm được hình thành, bộc lộ trước tiên trong đời sống hằng ngày ở khu dân cư, nhà trường, khu công nghiệp, nơi công cộng và các địa bàn giáp ranh. Một mâu thuẫn không được hòa giải kịp thời, một nhóm thanh thiêu niên có nguy cơ vi phạm thiếu người quản lý, một tụ điểm mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy không được phát hiện sớm đều có thể trở thành vấn đề phức tạp về trật tự, an toàn xã hội. Điều đó cho thấy cấp xã không chỉ là nơi tiếp nhận kết quả của các biện pháp phòng, chống tội phạm, mà phải là nơi phát hiện nguy cơ, tổ chức phòng ngừa và huy động người dân tham gia từ đầu. Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, việc xácđịnh địa bàn cấp xã là nền tảng của Chương trình có cơ sở thực tiễn rõ rệt và cần được cụ thể hóa bằng những nhiệm vụ, nguồn lực và chỉ tiêu đo lường phù hợp.
Thứ nhất, phần lớn những vấn đề liên quan trực tiếp đến an ninh con người xuất hiện và biểu hiện tại khu dân cư, trường học, nơi làm việc, khu công nghiệp, địa bàn giáp ranh và những nơi tập trung đông người. Đây là nơi các loại tội phạm tìm cách xâm nhập, lôi kéo người tham gia hoặc hình thành các điều kiện phát sinh vi phạm. Trong khi đó, nhiều hành vi có nguy cơ dẫn đến tội phạm có thể được nhận diện sớm từ những mâu thuẫn trong gia đình, học đường, các điểm tụ tập sử dụng ma túy hoặc tình trạng thanh thiều niên có nguy cơ. Nếu cấp xã có cơ chế nắm tình hình, tiếp nhận thông tin, hòa giải, quản lý và hỗ trợ phù hợp, nhiều vụ việc có thể được ngăn chặn trước khi trở thành vấn đề phức tạp.
Thứ hai, đại biểu nhất trí với mục tiêu đến năm 2030 phần đấu có ít nhất 50% số xã, phường, đặc khu trên toàn quốc không có ma túy. Chỉ tiêu này vừa thể hiện quyết tâm, vừa tạo cơ sở để các địa phương huy động trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, để mục tiêu có tính thực chất, việc xác định địa bàn không có ma túy phải dựa trên tiêu chí rõ ràng, thống nhất, phản ánh đúng tình hình và có cơ chế rà soát, công nhận, kiểm tra, duy trì kết quả. Không nên để sức ép thành tích dẫn đến tâm lý né tránh phát hiện người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc không báo cáo đầy đủ vụ việc. Một địa bàn làm tốt công tác phát hiện, quản lý, điều trị và hỗ trợ người nghiện cần được nhìn nhận bằng chất lượng quản trị nguy cơ, không chỉ bằng một con số mang tính hình thức.
Thứ ba, xây dựng địa bàn an toàn phải được đặt trong tổng thê các giải pháp phòng ngừa xã hội. Đối với ma túy, cần kết hợp phát hiện, triệt xóa các điểm phức tạp với cai nghiện, điều trị, quản lý sau cai, hỗ trợ tái hòa nhập và phòng ngừa tái nghiện. Đối với các loại tội phạm khác, cần chú trọng hòa giải tại cơ sở, giải quyết mâu thuẫn, giáo dục pháp luật, cảnh báo lừa đảo, hỗ trợ người bị hại và tiếp nhận, xử lý kịp thời tố giác, tin báo vê tội phạm. Mỗi hoạt động chỉ có giá trị khi cùng góp phần làm giảm điều kiện phát sinh tội phạm trên địa bàn. Vì vậy, đề nghị triển khai các dự án thành phần theo hướng phối hợp, dùng chung kênh truyền thông và dữ liệu cần thiết, tránh giao nhiều đầu việc tương tự cho một đơn vị cơ sở.
Thứ tư, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu mới về trách nhiệm của cấp xã. Khi địa bàn quản lý có thể rộng hơn, khối lượng công việc lớn hơn, muốn lực lượng ở cơ sở hoàn thành nhiệm vụ thì phải có nguồn lực tương ứng, quy trình phối hợp rõ và khả năng tiếp cận hỗ trợ chuyên môn từ cấp tỉnh, bộ, ngành. Đại biểu Bùi Trung Thành ủng hộ việc Chương trình chú trọng đầu tư nâng cao năng lực, thiết bị, công nghệ cảnh báo, đào tạo và các mô hình phù hợp thực tiễn. Song cần tính đến khả năng vận hành sau đầu tư, tránh mua sắm thiết bị vượt quá điều kiện sử dụng hoặc xây dựng những hệ thống độc lập không thể kết nối với hạ tầng sẵn có.
Thứ năm, nguồn lực hỗ trợ địa bàn cơ sở cần được phân bố theo yêu cầu thực tế và điều kiện ngân sách. Địa phương có nhiều khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, dân cư di biến động, khu công nghiệp hoặc tình hình ma tủy phức tạp thường có nhu cầu cao nhưng khả năng tự cân đối chưa tương xứng. Vì vậy, cần có nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ minh bạch; ưu tiên địa bàn trọng điểm, khó khăn và các mô hình có tác động trực tiếp. Không nên giao nhiệm vụ hoặc tỷ lệ đối ứng vượt khả năng tài chính của địa phương, đồng thời cũng không thay thế trách nhiệm cân đối nguồn lực của nơi có điều kiện. Cơ chế hỗ địa trợ đúng đối tượng sẽ giúp Chương trình không tạo khoảng cách mới giữa các địa bàn.
Thứ sáu, phát huy vai trò của Nhân dân là yếu tố quyết định. Người dân cần có kênh phản ánh tin báo thuận tiện, được bảo vệ khi tố giác, được tiếp cận thông tin phòng ngừa và được hỗ trợ khi là nạn nhân hoặc thuộc nhóm có nguy cơ. Gia đình, nhà trường, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có thể tham gia xây dựng môi trường sống lành mạnh, nhưng nhiệm vụ nghiệp vụ, cưỡng chế hay xử lý vi phạm vẫn phải do cơ quan có thẩm quyên thực hiện theo pháp luật. Phải giữ đúng ranh giới đó để việc huy động toàn dân được bền vững, tránh hình thức hoặc đặt lên cộng đồng những trách nhiệm không phù hợp.
Đại biểu Bùi Trung Thành nhất trí với việc dành vị trí quan trọng cho mục tiêu xây dựng xã, phường, đặc khu không có ma túy, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong Chương trình. Đề nghị Chính phủ khi tổ chức thực hiện coi cấp xã là nơi kiểm chứng hiệu quả cuối cùng của đầu tư; phân giao chỉ tiêu có cơ sở, đo lường minh bạch, gắn trách nhiệm với khả năng nguồn lực và khuyến khích các địa phương làm tôt công tác phòng ngừa thực chất. Khi địa bàn cơ sở an toàn, mục tiêu kéo giảm bền vững tội phạm mới có nền tảng vững chắc
Tăng cường bảo vệ người bị hại, người yếu thế và trẻ em
Theo đại biểu Bùi Trung Thành, sau mỗi vụ án, ngoài việc truy tìm, xử lý người thực hiện hành vi phạm tội, còn một vấn đề rất cần được quan tâm là tình trạng của người bị hại và những người chịu ảnh hưởng. Họ có thể mất tài sản, bị tổn hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc phải đối diện với khó khăn kéo dài về tâm lý, việc làm và sinh kế. Đối với trẻ em, người yếu thế và những người có hoàn cảnh khó khăn, khả năng tự bảo vệ và tiếp cận các dịch vụ pháp lý nhiều khi còn hạn chế. Một chính sách phòng, chống tội phạm hiệu quả vì vậy phải kết hợp yêu cầu ngăn chặn, xử lý với trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Đây là góc tiếp cận cần được chú trọng khi xem xét các nhiệm vụ trợ giúp pháp lý, bảo vệ người bị hại và hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương trong Chương trình.
Thứ nhất, người bị hại và nạn nhân của tội phạm thường phải đối mặt với nhiều dạng tổn thất cùng lúc. Bên cạnh thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự hoặc nhân phẩm, họ có thế chịu tổn thương tâm lý, gián đoạn học tập, việc làm, sinh kế; đôi khi không có đủ hiểu biết và điều kiện để tiếp cận các cơ quan có thẩm quyền. Đối với trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người có hoàn cảnh khó khăn, hậu quả này có thế kéo dài và làm gia tăng nguy cơ tiếp tục bị xâm hại. Vì vậy, phòng, chống tội phạm không chỉ là xử lý người thực hiện hành vi vi phạm, mà còn phải tổ chức hệ thống thông tin, tư vấn, bảo vệ và hỗ trợ để những người bị tác động tiếp cận được quyền lợi của mình.
Thứ hai, đại biểu đông tình với việc đưa nội dung nâng cao hiệu quá trợ giúp pháp lý, truy tố và xét xử vào cơ cấu dự án của Chương trình. Theo Tờ trình của Chính phủ, Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 bảo đảm 98% người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý có yêu cầu được tiếp cận thông tin và trợ giúp pháp lý trong vụ án hình sự. Đồng thời phấn đấu trợ giúp pháp lý cho 100% người vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện và người sau cai nghiện thuộc diện được trợ giúp pháp lý khi có yêu cầu. Đến năm 2035, mục tiêu tiếp cận đối với người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý có yêu cầu tiếp tục được nâng lên. Những chỉ tiêu này thể hiện sự quan tâm đến khả năng tiếp cận công lý, đặc biệt ở các nhóm có nguy cơ chịu thiệt thòi.
Thứ ba, quyền được trợ giúp pháp lý chỉ trở thành hiện thực khi người thụ hưởng có thể tiêp cận dịch vụ đúng thời điểm và đúng nhu cầu. Trong một vụ án hình sự, thông tin, tư vấn và sự hỗ trợ pháp lý kịp thời có ý nghĩa lớn đối với nhiều rào cản. Do đó, đầu tư cần chú trọng năng lực của đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, các hình thức cung cấp dịch vụ phù hợp, kết nối giữa cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức trợ giúp pháp lý, đồng thời bảo đảm chất lượng thay vì chỉ chú trọng tỷ lệ tiếp cận được ghi nhận.
Thứ tư, bảo vệ trẻ em và nhóm dễ bị tổn thương phải bắt đầu từ phòng ngừa. Những nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, mua bán người, lừa đảo hoặc bị lôi kéo tham gia hành vi vi phạm có thể xuất hiện trên môi trường mạng, tại trường học, trong gia đình và cộng đồng. Bởi vậy, đại biểu tán thành việc hồ sơ chú trọng truyền thông pháp luật, mô hình trường học an toàn, phát triển kỹ năng phòng vệ và sự phối hợp của gia đình, nhà trường, chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, giải pháp phòng ngừa phải phù hợp đặc điểm từng nhóm, không tạo kỳ thị hoặc mặc nhiên coi người thuộc diện quản lý, người có hoàn cảnh khó khăn là đối tượng nguy hiểm. Sự hỗ trợ, tôn trọng và khả năng tiếp cận dịch vụ chính là điều kiện để phòng ngừa rủi ro bền vững.
Thứ năm, đại biểu Bùi Trung Thành đặc biệt quan tâm tới những đối tượng liên quan đến ma túy trong phạm vi thụ hưởng. Người đang cai nghiện, người tham gia điều trị, người sau cai và người sử dụng trái phép chất ma túy có nhu cầu khác nhau về tư vấn, y tế, tâm lý và trợ giúp pháp lý. Khi tổ chức quản lý, hỗ trợ, cần phân định rõ tính chất hành chính, y tế, xã hội và trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Đầu tư cho dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tái hòa nhập và phòng ngừa tái nghiện vừa góp phần bảo vệ con người, vừa giảm các điều kiện có thể làm phát sinh hành vi phạm tội. Cần tránh sử dụng các biện pháp quản lý không phù hợp hoặc để lộ thông tin làm ảnh hưởng đến khả năng tái hòa nhập của người thụ hưởng.
Thứ sáu, tính nhân văn phải đi cùng trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các hoạt động trợ giúp pháp lý, tư vấn, hỗ trợ người bị hại hoặc triển khai mô hình bảo vệ trẻ em, cần xác định rõ đối tượng đủ điều kiện, phạm vi dịch vụ, cơ quan chịu trách nhiệm và cách đánh giá kết quá. Những thông tin liên quan đến người bị hại, trẻ em, người bị buộc tội hoặc người nghiện phải được bảo vệ theo quy định; không thu thập và chia sẻ vượt mục đích. Các cơ quan quản lý Chương trình cần đo lường không chỉ số lượt tiếp cận, mà còn tính kịp thời, chất lượng hỗ trợ, mức độ hài lòng phù hợp và hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của người dân. Việc phối hợp giữa trợ giúp pháp lý với hoạt động tố tụng và dịch vụ xã hội phải đúng thẩm quyền, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót trường hợp cần hỗ trợ. Từ những luận cứ trên, đại biểu Bùi Trung Thành ủng hộ chủ trương đầu tư Chương trình và đánh giá cao việc đặt bảo vệ người bị hại, người yếu thê, trẻ em và trợ giúp pháp lý trong cấu trúc các nhiệm vụ.
Đại biểu đề nghị Chính phủ khi triển khai ưu tiên khả năng tiếp cận thực chất của những nhóm khó khăn, bảo đảm chất lượng dịch vụ, bảo mật thông tin và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan. Một xã hội an toàn không chỉ là xã hội có ít tội phạm hơn, mà còn là nơi mọi người dân, nhất là người dễ bị tổn thương, được bảo vệ và có cơ hội tiếp cận công lý./.