"CÔNG AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG SIẾT CHẶT KỶ LUẬT, KỶ CƯƠNG, ĐIỀU LỆNH; XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ"

Đại biểu Quốc hội Hải Phòng góp ý kiến vào các dự thảo Luật

A
Cập nhật: 05/11/2026 08:38

Sáng 5/11/2026, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường về các dự án Luật. Đại biểu Quốc hội Hải Phòng tích cực tham gia ý kiến thảo luận. Bảo đảm việc bảo vệ công trình quan trọng được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật  Đại biểu  Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng tán thành sự cần thiết ban hành Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Theo đại biểu, cần làm rõ cách xác định phạm vi bảo vệ và thẩm quyền xử lý hoạt động trong hành lang bảo vệ.

 Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng phát biểu thảo luận tại hội trường về Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia   

Khoản 1 Điều 27 của dự thảo quy định phạm vi khu vực bảo vệ, hành lang bảo vệ của công trình theo pháp luật chuyên ngành. Trường hợp pháp luật chuyên ngành chưa quy định thì phạm vi được xác định theo đề nghị của Hội đồng thẩm định hoặc cơ quan thẩm định đối với từng loại công trình. Đại biểu nhất trí với việc phải có sự linh hoạt, bởi nguy cơ đối với mỗi công trình và điều kiện địa hình, dân cư không giống nhau.

Khoản 3 Điều 24 đã yêu cầu thẩm định sự phù hợp của biện pháp bảo vệ với đặc điểm công trình và tác động đối với phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, Điều 27 chưa làm rõ kết quả đánh giá ấy được sử dụng thế nào để lựa chọn ranh giới bảo vệ, nhất là khi ranh giới đi qua nhà ở, đất sản xuất hoặc cơ sở kinh doanh đã tồn tại hợp pháp.

Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 27 nguyên tắc: phạm vi bảo vệ phải dựa trên đánh giá nguy cơ cụ thể, hiện trạng dân cư và sử dụng đất; cơ quan đề xuất phải giải trình sự cần thiết của ranh giới được lựa chọn và xem xét phương án bảo vệ ít ảnh hưởng hơn mà vẫn đáp ứng yêu cầu an ninh. Ranh giới và những hạn chế áp dụng cần được thể hiện rõ để người bị ảnh hưởng có thể biết và thực hiện quyền của mình, đồng thời bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước.

Tại khoản 2 Điều 29, bản chỉnh lý đã chuyển yêu cầu đối với việc cư trú, sản xuất, kinh doanh trong hành lang từ phải được phép sang phải thông báo với cơ quan, tổ chức quản lý công trình. Đại biểu tán thành thay đổi này. Nhưng ngay sau đó, dự thảo vẫn cho cơ quan, tổ chức quản lý công trình “đình chỉ hoạt động” khi phát hiện hoạt động ảnh hưởng đến việc bảo vệ công trình, rồi thông báo cho cơ quan công an xử lý. Cơ quan, tổ chức quản lý công trình có thể là doanh nghiệp; trong khi căn cứ, phạm vi và thời điểm kết thúc việc đình chỉ chưa được xác định rõ.

Đại biểu cho rằng đơn vị quản lý phải được xử lý ngay nguy cơ tại chỗ. Vì vậy, đề nghị chỉnh lý khoản 2 Điều 29 theo hướng: khi có căn cứ cụ thể cho thấy một hoạt động đang gây mất an toàn hoặc có nguy cơ xâm phạm an ninh, an toàn công trình, đơn vị quản lý được yêu cầu tạm dừng chính hoạt động đó, áp dụng biện pháp bảo vệ tức thời và thông báo ngay cho cơ quan công an có thẩm quyền.

Việc tiếp tục đình chỉ, thay đổi hoặc chấm dứt biện pháp phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời xem xét, quyết định. Như vậy, công trình vẫn được bảo vệ khẩn trương mà hoạt động hợp pháp không bị đình chỉ kéo dài theo quyết định riêng của đơn vị quản lý.

Đại biểu Nguyễn Thị Viêt Nga cũng đề nghị đối chiếu với Điều 210 Luật Đất đai, theo đó người sử dụng đất trong hành lang về nguyên tắc được tiếp tục sử dụng đất đúng mục đích; nếu việc sử dụng ảnh hưởng đến an toàn công trình thì chủ công trình và người sử dụng đất phải tìm biện pháp khắc phục.

Khi áp dụng Điều 27 của dự thảo Luật này, cần xem xét hiện trạng nhà ở, quyền sử dụng đất và hoạt động hợp pháp có trước khi xác định hoặc điều chỉnh phạm vi bảo vệ; xác định rõ những hạn chế mới phát sinh và thông tin cho người bị ảnh hưởng. Đó là cơ sở để họ thực hiện quyền được bồi thường, hỗ trợ đã ghi tại điểm b khoản 1 Điều 36 của dự thảo Luật, theo pháp luật có liên quan. Đại biểu không đề nghị tạo thêm một cơ chế bồi thường riêng, mà đề nghị làm rõ cách thực hiện quyền đã được luật ghi nhận.

Đại biểu cho rằng, cần xác định giới hạn của biện pháp bảo vệ cấp bách chưa được pháp luật quy định.

Khoản 5 Điều 10 và khoản 2 Điều 28 giao Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ chưa được pháp luật quy định trong trường hợp đặc biệt cấp thiết. Đại biểu nhất trí với yêu cầu ứng phó nhanh với các phương thức tấn công mới. Thẩm quyền áp dụng biện pháp cấp bách của Thủ tướng cũng đã được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ.

Điều cần tiếp tục làm rõ là biện pháp tổ chức, kỹ thuật để ứng phó nguy cơ không đồng nghĩa với việc đặt ra một hạn chế mới đối với quyền của người dân. Đại biểu đề nghị bổ sung tại hai khoản này yêu cầu quyết định áp dụng phải nêu nguy cơ cụ thể, sự cần thiết của biện pháp, đối tượng, phạm vi và thời gian thực hiện; biện pháp phải được đánh giá lại và chấm dứt khi căn cứ áp dụng không còn. Nếu biện pháp tác động đến quyền con người, quyền công dân thì việc áp dụng phải nằm trong giới hạn do luật quy định. Việc báo cáo quyết định cần được thực hiện kịp thời, phù hợp yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước.

Quy định rõ ranh giới thẩm quyền và quyền của người bị tác động sẽ giúp lực lượng thực thi quyết đoán khi cần thiết, đồng thời bảo đảm việc bảo vệ công trình quan trọng được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật.

                               Làm rõ trách nhiệm thu hồi và xử lý đến cùng những phương tiện chữa cháy giả

Thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC và cứu nạn, cứu hộ, đại biểu Vũ Văn Tiến (Hải Phòng) xót xa nhớ lại rất nhiều vụ cháy thảm khốc xảy ra ở nhiều địa phương trong cả nước. Những thảm kịch do “giặc lửa” gây ra, cướp đi sinh mạng con người, thiêu rụi tài sản, để lại những mất mát không gì bù đắp được.

Quang cảnh phiên thảo luận

Tháng 9/2025, một người dân ở Hà Nội đã mua đến 180 bình chữa cháy, nhưng khi sử dụng lại phát hiện không dập được lửa. Từ đây, cơ quan Công an phát hiện đường dây sản xuất, tiêu thụ hơn 1,2 triệu bình bột chữa cháy giả, cùng hành vi đưa hối lộ hơn 17 tỷ đồng để được kiểm định đạt chuẩn. Tháng 10/2025, Công an tỉnh Phú Thọ bắt giám đốc một công ty sản xuất hơn 2,2 bình chữa chảy giả.

Tại sao lại có số lượng lớn bình chữa cháy giả như vậy? Vì sao người dân bỏ tiền mua phương tiện bảo vệ tính mạng, nhưng thứ nhận được là những chiếc bình chữa cháy vô dụng khi hỏa hoạn xảy ra. Vậy số lượng bình giả này đã bán ra thị trường, giờ đang ở đâu, đã vào trong nhà dân hay những công trình nào?

Từ thực tế đó, đại biểu cho rằng việc sửa Luật cần làm rõ thêm hai vấn đề : Làm thế nào để thu hồi bình chữa cháy giả đã bán ra thị trường? Và làm thế nào để hậu kiểm thực chất, ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân?

Đại biểu Vũ Văn Tiến (Hải Phòng) phát biểu thảo luận tại hội trường về  dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC và cứu nạn, cứu hộ

Theo đại biểu, phải làm rõ trách nhiệm thu hồi và xử lý đến cùng những phương tiện chữa cháy giả đã lưu thông trên thị trường quy định tại khoản 8 Điều 2 Dự thảo sửa đổi Điều 44 Luật PCCC và CNCH.

Cụ thể, dự thảo Luật đã chuyển mạnh sang quản lý chất lượng theo cơ chế công bố hợp quy, đánh giá sự phù hợp và kê khai thông tin trước khi lưu thông. Tuy nhiên, điều đại biểu  băn khoăn là cơ chế này đã đủ để truy xuất và thu hồi hàng triệu sản phẩm không bảo đảm chất lượng hay chưa?

Theo đại biểu, cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong việc truy xuất, kiểm kê, thu hồi, tiêu hủy và thay thế bình chữa cháy giả đã được đưa vào các công trình; đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm chi trả chi phí, bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp sản xuất, nhà phân phối và các bên liên quan, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, doanh nghiệp.

Không thể chỉ dừng lại ở việc phát hiện, khởi tố, xử lý những người sản xuất hàng giả, trong khi những sản phẩm nguy hiểm vẫn tiếp tục được sử dụng.

Vì vậy, đại biểu đề nghị hoàn thiện Điều 44 và các quy định liên quan theo hướng xác định rõ trách nhiệm truy xuất nguồn gốc, cảnh báo, thu hồi, tiêu hủy, thay thế; công khai kết quả xử lý và ưu tiên rà soát những địa điểm tập trung đông người, nguy cơ xảy ra cháy nổ cao.

Đại biểu Vũ Văn Tiến đề nghị phải thiết lập cơ chế hậu kiểm thực chất, độc lập, minh bạch, phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan.

Đại biểu đồng tình với chủ trương cắt giảm tiền kiểm, đơn giản hóa thủ tục. Nhưng giảm thủ tục không có nghĩa là giảm trách nhiệm quản lý.

Hàng loạt vụ án sản xuất, kinh doanh phương tiện chữa cháy giả, kém chất lượng bị phanh phui đã phơi bày một nghịch lý đáng lo ngại: sản phẩm không đạt chất lượng nhưng vẫn được cấp giấy chứng nhận kiểm định đạt chuẩn.

Đại biểu đề nghị quy định rõ hai khâu hậu kiểm: thứ nhất, kiểm soát quy trình sản xuất, nhập khẩu và chất lượng phương tiện đang kinh doanh, lưu thông; thứ hai, kiểm tra việc thi công, lắp đặt, nghiệm thu, vận hành hệ thống PCCC tại các công trình theo thiết kế và quy chuẩn được áp dụng.

Đặc biệt, đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định giao các đơn vị kỹ thuật chuyên môn có đủ năng lực thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tham gia nòng cốt trong việc lấy mẫu, kiểm nghiệm đối chứng, giám định độc lập theo thẩm quyền pháp luật. Đại biểu tin tưởng vào năng lực chuyên môn, tính kỷ luật của lực lượng Công an, Quân đội; nếu được phát huy cùng cơ chế giám sát minh bạch, đây sẽ là yếu tố củng cố niềm tin của nhân dân./.

Gửi ý kiến:

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

TƯ CÁCH
NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MỆNH LÀ:

Đối với tự mình, phải
CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH Đối với đồng sự, phải
THÂN ÁI GIÚP ĐỠ Đối với chính phủ, phải
TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH Đối với nhân dân, phải
KÍNH TRỌNG LỄ PHÉP Đối với công việc, phải
TẬN TỤY Đối với địch, phải
CƯƠNG QUYẾT, KHÔN KHÉO Trích thư Chủ tịch Hồ Chí Minh
gửi Công an Khu XII,
ngày 11 tháng 3 năm 1948.

Tổng lượt truy cập: 0

Trực tuyến: 0

Phản ánh kiến nghị Công an Hải Phòng