Theokhoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành có 04 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt: 03 biện pháp phục vụ việc thu tiền phạt và 01 biện pháp phục vụ thi hành biện pháp khắc phục hậu quả. Trong khi đó, một số hình thức xử phạt bổ sung khác như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động và một số nghĩa vụ khắc phục hậu quả chưa quy định riêng biện pháp cưỡng chế cụ thể khi người vi phạm không tự nguyện chấp hành. Vì vậy, có quyết định được ban hành nhưng chưa được thực hiện đầy đủ, nhất là khi cá nhân, tổ chức cố tình trì hoãn hoặc né tránh nghĩa vụ.

Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi đề xuất bổ sung một số biện pháp cưỡng chế nhằm xử lý tình trạng không tự nguyện chấp hành, bên cạnh các biện pháp hiện hành. Nhóm biện pháp được đề xuất gồm: tạm hoãn xuất cảnh trong trường hợp luật định; niêm phong trụ sở, địa điểm hoặc bộ phận cơ sở; yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở liên quan; tạm dừng đăng kiểm, đăng ký xe hoặc cấp giấy phép lái xe; và biện pháp ngăn chặn kỹ thuật, chặn truy cập hoặc yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ Internet, viễn thông, hạ tầng số đối với hành vi không chấp hành trên môi trường điện tử.Các biện pháp này không phải hình thức xử phạt mới và cũng không được áp dụng mặc nhiên mỗi khi có quyết định xử phạt chưa thi hành. Mục tiêu là tạo công cụ để buộc thực hiện nghĩa vụ cụ thể đã được xác định trong quyết định, chẳng hạn chấp hành đình chỉ hoạt động, khắc phục tình trạng ô nhiễm hoặc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Việc áp dụng phải dựa trên căn cứ theo điều kiện, trình tự và thẩm quyền được quy định tại dự thảo luật; đồng thời phải xác định rõ chủ thể, phạm vi và thời hạn, tránh ảnh hưởng đến người không liên quan.
Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng với những biện pháp có thể tác động đến sinh hoạt hoặc hoạt động hợp pháp của bên thứ ba. Nếu yêu cầu ngừng dịch vụ điện, nước hay hạn chế truy cập vượt quá cơ sở và phạm vi cần thiết, người chịu ảnh hưởng có thể không phải là người vi phạm. Vì vậy, cơ quan tổ chức thi hành cần kiểm tra tình trạng chấp hành, xác định chính xác địa điểm, cơ sở, tài khoản hoặc dịch vụ liên quan; lập hồ sơ về việc đã thông báo, vận động tự nguyện và căn cứ chuyển sang cưỡng chế; đồng thời dừng biện pháp khi nghĩa vụ đã được thực hiện hoặc căn cứ áp dụng không còn.
Đối với cơ quan thực thi, yêu cầu đặt ra là quản lý chặt từng quyết định từ thời điểm ban hành đến khi hoàn thành nghĩa vụ: theo dõi thời hạn, xác định rõ nội dung chưa chấp hành, thông báo và tạo điều kiện tự nguyện thực hiện; chỉ đề xuất cưỡng chế khi đủ căn cứ, đúng thẩm quyền và đúng trình tự. Hồ sơ mỗi vụ việc cần thể hiện căn cứ, phạm vi tác động, chủ thể chịu trách nhiệm và kết quả thực hiện để phục vụ kiểm tra, giải quyết khiếu nại, bảo đảm không ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức không liên quan.
Cưỡng chế là cần thiết để bảo đảm quyết định xử phạt không bị vô hiệu trên thực tế; nhưng quyền lực cưỡng chế phải được kiểm soát bằng căn cứ rõ ràng, thủ tục có thể kiểm tra và trách nhiệm cá nhân của người thi hành. Thực hiện đúng các giới hạn đó vừa bảo vệ kỷ cương pháp luật, vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
*Đội Pháp chế & Quản lý khoa học