"CÔNG AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG SIẾT CHẶT KỶ LUẬT, KỶ CƯƠNG, ĐIỀU LỆNH; XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ"

Đại biểu Quốc hội Hải Phòng góp ý về dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)

A
Cập nhật: 03/11/2026 09:02

Ngày 2-11, Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Đại biểu Quốc hội Hải Phòng có nhiều ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật.

Đại biểu Quốc hội Hải Phòng trong phiên thảo luận 

Đại biểu Lã Thanh Tân, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng  tán thành việc dự thảo xác định ưu tiên trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc; chỉ xem xét giải quyết nuôi con nuôi khi trẻ em không thể hoặc không được bảo đảm việc chăm sóc trong gia đình gốc, đồng thời nuôi con nuôi phải được cân nhắc trong tương quan với các hình thức chăm sóc thay thế khác. Đây là nguyên tắc phù hợp với yêu cầu bảo vệ trẻ em và tránh việc nuôi con nuôi trở thành giải pháp thay thế mặc nhiên khi gia đình gặp khó khăn.

Tuy nhiên, nguyên tắc ưu tiên gia đình gốc cần được cụ thể hóa bằng tiêu chí và quy trình đánh giá có thể kiểm chứng. Nếu chỉ quy định mang tính định hướng mà không xác định rõ nội dung đánh giá, cơ quan thực hiện có thể áp dụng khác nhau; hoặc ngược lại, việc kéo dài xác minh, vận động gia đình gốc trong khi không có khả năng phục hồi chăm sóc sẽ làm mất cơ hội được sống trong môi trường gia đình ổn định của trẻ.

Đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu đánh giá tối thiểu các yếu tố: khả năng thực tế của cha, mẹ và người thân thích trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ; nguyên nhân trẻ phải sống ngoài gia đình gốc; khả năng khắc phục nguyên nhân đó trong thời hạn hợp lý; mức độ an toàn và nguy cơ xâm hại nếu trẻ trở về; nguyện vọng, tình trạng sức khỏe, độ tuổi và nhu cầu phát triển của trẻ. Việc đánh giá phải đặt lợi ích tốt nhất của trẻ làm tiêu chí quyết định, không chỉ dựa trên tình trạng pháp lý hoặc hoàn cảnh kinh tế đơn lẻ của cha mẹ đẻ.

Đối với khoản 7 Điều 5, dự thảo quy định nghiêm cấm hành vi “Không thực hiện trách nhiệm chuyển hình thức chăm sóc thay thế tại cơ sở trợ giúp xã hội sang hình thức nuôi con nuôi đối với trẻ em có nhu cầu được nhận làm con nuôi”. Quy định này có thể dẫn đến cách hiểu rằng cứ trẻ có nhu cầu được nhận làm con nuôi thì cơ sở trợ giúp xã hội phải chuyển sang hình thức nuôi con nuôi, trong khi việc chuyển đổi còn phụ thuộc điều kiện pháp lý, sự đồng ý hợp lệ, khả năng tìm được gia đình phù hợp và lợi ích tốt nhất của từng trẻ. Mặt khác, quy định chưa phân biệt được việc chậm chuyển đổi do thiếu trách nhiệm với trường hợp chưa thể chuyển đổi vì có căn cứ khách quan.

Đại biểu đề nghị chỉnh lý theo hướng cấm hành vi cản trở, cố ý trì hoãn hoặc không thực hiện việc rà soát, đánh giá, lập hồ sơ và đề nghị chuyển đổi hình thức chăm sóc khi trẻ đủ điều kiện; đồng thời không đặt ra nghĩa vụ phải chuyển đổi trong mọi trường hợp bất kể điều kiện thực tế.

Đồng thời, đề nghị bổ sung tại Điều 11 trách nhiệm lập, quản lý và cập nhật hồ sơ đánh giá riêng đối với từng trẻ có nhu cầu được nhận làm con nuôi; định kỳ xem xét khả năng chuyển đổi; trường hợp chưa đề nghị chuyển đổi phải ghi nhận rõ lý do, căn cứ và thời điểm đánh giá lại. Cơ chế này vừa bảo đảm không bỏ sót trẻ có nhu cầu, vừa tạo căn cứ kiểm tra trách nhiệm của cơ sở trợ giúp xã hội và cơ quan quản lý.

 Về quyền được biết nguồn gốc của con nuôi và cơ chế tiếp cận thông tin (Điều 7), đại biểu cho rằng, quy định về quyền mới dừng ở nguyên tắc, trong khi cơ chế thực hiện chưa được thiết kế đầy đủ và thống nhất cho cả trường hợp nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

          Nếu việc cung cấp thông tin chủ yếu được hướng dẫn cho trường hợp nuôi con nuôi nước ngoài thì quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước có nguy cơ không được bảo đảm tương đương. Quy định chung rằng việc cung cấp thông tin phải phù hợp với Luật này và pháp luật có liên quan cũng chưa đủ để xác định chủ thể tiếp nhận yêu cầu, cơ quan có trách nhiệm giải quyết, phạm vi thông tin được tiếp cận, trình tự, thời hạn và cách xử lý khi thông tin có nguy cơ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Đại biểu đề nghị quy định rõ con nuôi có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức đang quản lý hồ sơ cung cấp hoặc tạo điều kiện tiếp cận thông tin về nguồn gốc của mình; cơ quan quản lý hồ sơ có trách nhiệm tiếp nhận, hướng dẫn và giải quyết yêu cầu theo trình tự, thời hạn luật định. Đối với con nuôi chưa thành niên, việc cung cấp thông tin cần tính đến độ tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức và trạng thái tâm lý của trẻ; cần có sự tư vấn, hỗ trợ phù hợp để bảo đảm thông tin được tiếp nhận an toàn, không gây tổn thương không cần thiết.

Mặt khác, quyền được biết nguồn gốc cần được hài hòa với quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và quyền, lợi ích hợp pháp của cha mẹ đẻ, người thân thích. Việc bảo vệ các quyền này không nên trở thành căn cứ để từ chối một cách mặc nhiên hoặc vô thời hạn quyền tiếp cận thông tin của con nuôi. Cần thiết kế cơ chế cân bằng, trong đó xác định rõ trường hợp, phạm vi và cách thức cung cấp thông tin; trường hợp cần hạn chế hoặc trì hoãn việc cung cấp phải có căn cứ cụ thể, được giải thích và có cơ chế xem xét lại.

Đại biểu đề nghị chỉnh lý Điều 7 theo hướng luật hóa các nguyên tắc và trách nhiệm cơ bản nêu trên, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết thủ tục tiếp cận, cung cấp thông tin áp dụng thống nhất cho nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Không nên chỉ giao quy định đối với một nhóm trường hợp, bởi đây là quyền nhân thân của mọi người được nhận làm con nuôi, không phụ thuộc nơi cư trú hoặc yếu tố quốc tịch.

          Về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi (Điều 13), dự thảo quy định trường hợp nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình, người được nhận làm con nuôi chỉ cần đáp ứng điều kiện về độ tuổi dưới 18 tuổi.

          Quy định này tạo thuận lợi cho việc chăm sóc trẻ trong quan hệ thân thích, nhưng nếu chỉ căn cứ vào quan hệ gia đình và độ tuổi thì chưa đủ bảo đảm nguyên tắc ưu tiên gia đình gốc. Trên thực tế, có thể phát sinh trường hợp cha mẹ đẻ vẫn còn sống, có khả năng và điều kiện thực tế để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhưng việc nhận nuôi con nuôi vẫn được giải quyết mà chưa đánh giá đầy đủ sự cần thiết.

Đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu xem xét hoàn cảnh cụ thể của trẻ và gia đình gốc; xác định việc chuyển giao quan hệ cha mẹ nuôi - con nuôi có thực sự cần thiết, ổn định và phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ hay không. Cần phân biệt trường hợp người thân thích nhận trẻ làm con nuôi để bảo đảm môi trường chăm sóc lâu dài, an toàn với trường hợp việc nhận con nuôi chỉ nhằm hợp thức hóa một quan hệ chăm sóc trên thực tế hoặc phục vụ mục đích khác. Việc cha mẹ đẻ còn sống không đương nhiên là căn cứ từ chối, nhưng phải được xem xét thực chất về khả năng chăm sóc, trách nhiệm và nguyện vọng của họ, trừ trường hợp pháp luật có căn cứ không cần lấy ý kiến.

Đại biểu Quốc hội Hải Phòng trong phiên thảo luận 

Đại biểu Phạm Thu Xanh (Hải Phòng)  đề nghị bảo đảm sự thống nhất khái niệm gia đình gốc với pháp luật về hỗ trợ sinh sản

Khoản 6 Điều 3 dự thảo xác định gia đình gốc là gia đình của những người có quan hệ huyết thống. Tuy nhiên, nếu trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có thể không có quan hệ di truyền với cha, mẹ hợp pháp.

Điều 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc xác định cha mẹ trong các trường hợp này; người hiến tinh trùng, noãn, phôi không vì việc hiến mà trở thành cha, mẹ của trẻ. Cách xác định này có thể không thống nhất giữa hai luật.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 6 Điều 3: “Đối với người sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc do mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, gia đình gốc là gia đình của cha, mẹ được xác định theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.” Điều 21 cũng cần xác định người có quyền đồng ý cho trẻ làm con nuôi theo tư cách cha mẹ hợp pháp; người hiến không có quyền đồng ý.

Đại biểu đề nghị bảo đảm trách nhiệm chăm sóc sức khỏe trước và sau khi nhận nuôi.

Khoản 3 Điều 10 quy định trách nhiệm của Bộ Y tế, nhưng hướng dẫn cần bao quát cả trẻ sống tại gia đình, không chỉ trẻ ở cơ sở trợ giúp xã hội.

Theo báo cáo năm 2025, có 111 trong tổng số 182 trẻ được giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sống tại gia đình, chiếm khoảng 61%.

Vì vậy đề nghị sửa khoản 3 Điều 10 theo hướng Bộ Y tế hướng dẫn đánh giá sức khỏe, nhu cầu chăm sóc của tất cả trẻ được giải quyết cho làm con nuôi.

Bổ sung vào Điều 20 yêu cầu đối chiếu tình trạng sức khỏe, nhu cầu phát triển của trẻ với khả năng đáp ứng của người nhận nuôi.

Tại Điều 22, cần quy định trách nhiệm bàn giao thông tin sức khỏe và phối hợp với cơ sở y tế để tiếp tục điều trị. Trẻ đang dùng thuốc, cần tái khám, phục hồi chức năng hoặc hỗ trợ tâm lý phải có đầu mối tiếp nhận. Việc thay đổi người đại diện, giấy tờ hoặc nơi cư trú không được làm gián đoạn quyền khám bệnh, chữa bệnh của trẻ.

Theo đại biểu, không lấy hoàn cảnh nghèo của cha mẹ để làm căn cứ xác định trẻ đủ điều kiện cho làm con nuôi

Khoản 1 Điều 13 cần quy định chặt chẽ để tránh cách hiểu rằng trẻ mắc bệnh hiểm nghèo hoặc phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo, cận nghèo thì trẻ không có khả năng được cha mẹ chăm sóc.

Theo Nghị định 56/2017/NĐ-CP, cần xem xét cha và mẹ có thực sự không còn khả năng chăm sóc trẻ hay không. Khó khăn kinh tế, kể cả không đủ tiền điều trị bệnh, không đồng nghĩa với việc cha mẹ không còn khả năng chăm sóc con.

Đề nghị bổ sung vào Điều 13 yêu cầu đánh giá khả năng chăm sóc thực tế của cha mẹ và biện pháp hỗ trợ để trẻ tiếp tục sống an toàn trong gia đình gốc cùng với cha mẹ.

Đồng thời, không nên coi bệnh hiểm nghèo của cha mẹ nuôi là căn cứ độc lập để chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điểm b khoản 1 Điều 27 quy định cả cha và mẹ nuôi mắc bệnh hiểm nghèo khi con nuôi chưa thành niên là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, chẩn đoán bệnh không đồng nghĩa với mất khả năng chăm sóc con. Khả năng này còn phụ thuộc mức độ ảnh hưởng của bệnh và sự hỗ trợ của người thân.

Nếu cha mẹ nuôi vẫn có thể bảo đảm chăm sóc an toàn cho trẻ, kể cả nhờ sự hỗ trợ phù hợp của gia đình, thì không nên chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi chỉ vì mắc bệnh.

Đề nghị bỏ cụm từ “mắc bệnh hiểm nghèo” như căn cứ độc lập tại điểm b khoản 1 Điều 27. Chỉ xem xét chấm dứt khi cha mẹ nuôi thực tế không còn khả năng chăm sóc, biện pháp hỗ trợ không thể bảo đảm an toàn và Tòa án xác định việc chấm dứt phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ.

Việc đánh giá phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể, có ý kiến của cơ quan chuyên môn và đặt an toàn, sự ổn định lâu dài cùng lợi ích tốt nhất của trẻ làm tiêu chí xuyên suốt trong quyết định.

Theo đại biểu, giá trị cốt lõi của Luật Nuôi con nuôi không chỉ là tạo điều kiện để trẻ có gia đình mới, mà còn bảo đảm trẻ được sống an toàn, được chăm sóc đầy đủ, được tôn trọng và phát triển ổn định. /.

Gửi ý kiến:

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

TƯ CÁCH
NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MỆNH LÀ:

Đối với tự mình, phải
CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH Đối với đồng sự, phải
THÂN ÁI GIÚP ĐỠ Đối với chính phủ, phải
TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH Đối với nhân dân, phải
KÍNH TRỌNG LỄ PHÉP Đối với công việc, phải
TẬN TỤY Đối với địch, phải
CƯƠNG QUYẾT, KHÔN KHÉO Trích thư Chủ tịch Hồ Chí Minh
gửi Công an Khu XII,
ngày 11 tháng 3 năm 1948.

Tổng lượt truy cập: 0

Trực tuyến: 0

Phản ánh kiến nghị Công an Hải Phòng